DRED OpenForum

Phiên bản đầy đủ: Gía trị của các thông số trong nước tiểu cần biết
Bạn đang xem phiên bản rút gọn. Bạn có thể xem bản đầy đủ.
Nguyên tắc phản ứng và giá trị của từng thông số xét nghiệm nước tiểu

[url=http://bmvietnam.com/may-xet-nghiem-nuoc-tieu-roche-urisys-1100-1.html
]Máy xét nghiệm nước tiểu[/url] và máy phân tích nước tiểu thường dựa trên những thông số sau
-Màu sắc của nước tiểu (Color):
Màu sắc của nước tiểu có màu từ vàng nhạt đến màu hổ phách tuỳ vào lượng nước tiểu bài xuất và đậm độ nước tiểu. Những sắc tố chính trong nước tiểu là urochrome, các sản phẩm chứa nitơ, urobilin (sản phẩm oxy hoá của urobilinogen- sản phẩm thaói hoá của hemoglobine), các dẫn xuất của indoxyl. Ngoài ra, trong một số trường hợp bệnh lý, nước tiểu có thể có các chất làm cho màu sắc thay đổi: bệnh lý gan mật, chảy máu đường tiết niệu, đái dưỡng trấp thì nước tiểu có màu trắng đục như nước vo gạo.
-Độ trong suốt (Transparance):
Nước tiểu bình thường, lấy trong điều kiện đúng quy cách, thường là trong suốt. Nước tiểu sau một thời gian ngắn để lắng đọng sẽ tạo thành một đám mây vẫn đục lơ lửng ở giữa hay ở đáy ống đựng nước tiểu tuỳ thuộc tỷ trọng nước tiểu. Những vẩn đục trên là những tế bào bình thường của nội mô đường tiết niệu và các chất nhày urosomucoid. Nước tiểu bình thường sau khi tiểu tiện để trong lọ để chỗ mát hay lạnh vẫn có thể tủa lắng xuống đáy lọ, đó có thể là cặn acide uric, muối urat natri hoặc phosphate. Có thể phân biệt dễ dàng hai loại muối này bằng cách đun nước tiểu gần sôi, muối urat tan và nước tiểu trong trở lại, trong khi cặn phosphate không tan trong môi trường trung tính và kiềm, chỉ tan trong môi trường acide nhẹ (thông số này không kèm trong que thử, chỉ phân tích được trên máy Roche Cobas U-411)
-Độ sánh (vicosity):
Nước tiểu bình thường có độ sánh cao hơn nước một ít. Trong một số trường hợp bệnh lý, tính chất của nước tiểu thay đổi do sự có mặt của một số chất như mủ, máum protein, mucoprotein, dưỡng trấp,.. những chất này làm cho nước tiểu sánh hơn và có nhiều bọt (thông số này không kèm trong que thử).
-Tỷ trọng nước tiểu (SG-Specific gravity):
Thử nghiệm này phản ánh nồng độ ion trong nước tiểu và tương quan chặt với phương pháp đo khúc xạ. Với sự có mặt của các cation, các proton sẽ được giải phóng bởi một thuốc thử hỗn hợp, tạo nên một sự thay đổi màu của chất chỉ thị bromthymol có màu xanh da trời sang màu xanh lá cây rồi sang màu vàng. sự có mặt của poteine nồng độ từ 100 đến 500mg/dl hoặc các cetoacid, tỷ trọng nước tiểu đọc được có xu hướng tăng. sự tăng tỷ trọng do nồng độ glucose >1000mg/dl (> 56mmol/dl) không được thể hiện ở thử nghiệm này.
Tỷ trọng nước tiểu thay đổi trong ngày. Nước tiểu 24 giờ ở người bình thường, người lớn, chế độ ăn hỗn hợp, đo ở điều kiện nhiệt độ 150C, tỷ trọng từ 1,005-1,030, trung bình là 1,080 ±0,22. Trong một số trường hợp bệnh lý như đái đường tuỵ, tỷ trọng nước tiểu có thể tăng 1,030-1,040, nhưng trong đái tháo nhạt thì tỷ trọng lại giảm.
-pH nước tiểu:
Giấy trên thanh thử chứa các chất chỉ thị: đỏ methyl, phenolphtalein và xanh bromthymol. Giá trị pH thường thấy ở những người khoẻ mạnh nằm ở khoảng 5-6, trung bình 5,8. Độ acide của nước tiểu là do sự có mặt acide tự do (acid acetic, acid uric, phosphate acide và một lượng quan trọng những hợp chất acid dưới dạng muối amoni. Quá trình này gắn liền với vai trò của thận trong sự duy trì năng lượng acide base.
pH nước tiểu thay đổi theo chế độ ăn, nếu ăn nhiều rau thì nước tiểu ít acide hơn, có khi pH trung tính hoặc hơi kiềm, vì thức ăn thực vật có nhiều muối kiềm.

-Glucose (Glu):
Sự xác định glucose trong nước tiểu được dựa trên một phản ứng đặc hiệu glucoseoxidase.
Xét nghiệm này không bị ảnh hưởng bởi tỷ trọng, pH nước tiểu và cũng không bị ảnh hưởng bởi sự có mặt của thể cetonic trong nước tiểu ảnh hưởng của acid ascorbic đã được loại trừ một cách hiệu quả để nồng độ glucose là 100mg/dl hoặc cao hơn cũng không bị kết quả âm tính giả ngay cả ở nồng độ acide ascorbic cao.
-Cetonide (Ket):
Nước tiểu bình thường chứa khoảng vài mg acide acetic/lit nước tiểu và vài trăm mg acid beta hydrobutyric.
Các chất cetonic trong nước tiểu tăng trong các rối loạn chuyển hoá glucide, đói lâu ngày, tăng chuyển hoá glucide, sau một số trường hợp dùng thuốc mê.
Xét nghiệm dựa vào nguyên tắc phản ứng Legal và có độ nhạy với acetoacetic hơn là với aceton. Các chất phenylceton và phtalein tạo nên màu đỏ trên thanh thử, do đó chúng rất khác với màu tím tạo nên bởi các thể cetonid, và điều này có thể dẫn đến kết quả dương tính giả.
Các chất captopril, mesna (muối natri của acid 2 mercaptoethanesulphopnic) và chất chứa các nhóm sulfhydryl có thể gây nên kết quả dương tính giả.
-Urobilinogen (Ubg):
Xét nghiệm này dựa trên nguyên tắc là muối diazonium phản ứng với urobilinogen để tạo nên một chất azo có màu đỏ. Phản ứng rất đặc hiệu, song nó không bị ảnh hưởng bởi những yếu tố gây nhiễu. Phản ứng không màu hoặc có màu nhạt hơn màu của nồng độ urobilinogen là 1mg/dL (17mmol/L) thấy trong những mẫu bình thường.
-Bilirubin (Bil):
Dựa trên nguyên tắc của kết hợp bilirubin với muối diazonium sẽ cho màu đỏ. Ngay cả nước tiểu cho phản ứng màu hồng nhạt nhất cũng là phản ứng dương tính, nghĩa là có tình trạng bệnh lý. Các thành phần khác của nước tiểu chỉ cho màu vàng với thuốc thử này.
-Hồng cầu (Blo):
Hemoglobin và myoglobin xúc tác cho sự oxy hoá chất chỉ thị là hydroperoxyt hữu cơ chứa trong giấy thanh thử. Các giá trị được in ra thể hiện số hồng cầu nguyên vẹn. Các giá trị trong khoảng 5-10 hồng cầu/ml cũng được áp dụng cho số lượng hemoglobine được giải phóng từ 5-10 hồng cầu/mL. Các Nồng độ 5-10 hồng cầu hoặc cao hơn, sự tan huyết nhiều có thể dẫn đến giá trị cao hơn các nồng độ tương ứng của số lượng các hồng cầu nguyên vẹn, acide ascorbic hầu như không ảnh hưởng đến giá trị kết quả này.
-Acide ascorbic (Asc):
Khi nước tiểu có độ acide hoặc không thì kết quả sẽ thẻ hiện âm tính hay dương tính. VD: từ 20mg/dl là tương ứng (+)